Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kiến thức Marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 11, 2013

Tiếp cận khách hàng qua Freelancer – Hướng marketing mới?

                                                            
Hoà chung xu thế hội nhập, liên kết trong thời đại WTO, các doanh nghiệp Việt có xu hướng mở rộng đầu tư sang thị trường nước ngoài cũng như liên doanh, liên kết để nâng cao sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt cũng liên tục nhập khẩu dây chuyền, vật tư trang thiết bị nâng cao chất lượng của sản phẩm sản xuất trong nước. 

Trong quá trình này, các doanh nghiệp Việt Nam thường phải đầu tư công sức nghiên cứu thị trường và đối tác. Trước đây khi nguồn thông tin bị bó hẹp, các doanh nghiệp Việt thường có ít sự lựa chọn đối với việc tìm hiểu thị trường nước ngoài. 

Các kênh thông tin về thị trường nước ngoài truyền thống chính thức có thể kể đến như: thông qua Trung tâm xúc tiến thương mại của Đại sứ quán tại nước sở tại, Cổng thông tin xúc tiến thương mại của các bộ, ban ngành. Những cổng thông tin này thường đưa ra dữ liệu thông tin chung về thị trường nhất định. Do hạn chế về nhân lực, để tiếp cận được với những thông tin khách hàng chi tiết, thường các doanh nghiệp phải chờ đợi trong thời gian nhất định, có thể đánh mất cơ hội kinh doanh hoặc có thể doanh nghiệp phải chi một khoản phí khá cao cho những thông tin đó. Hiện nay, với sức mạnh truyền thông như vũ bão của Internet, các doanh nghiệp đã có những hướng tiếp cận mới để tiếp cận khách hàng. 

Freelance Jobs  
Trên trang freelancer.com, chúng ta có thể bắt gặp những thông tin đăng tải tìm nhân sự freelancer tại bản địa với một mức chi phí nhất định để tìm hiểu giúp doanh nghiệp những vấn đề doanh nghiệp đang quan tâm như: 

- So sánh mức giá tại thị trường nội địa cho loại máy móc doanh nghiệp đang chuẩn bị nhập khẩu; 
- Tìm cơ sở dữ liệu chi tiết các khách hàng quan tâm đến sản phẩm doanh nghiệp đang cung cấp, chuẩn bị bước đệm cho việc mở rộng thị trường, tìm kiếm liên hệ khách hàng tiềm năng
- Tìm người bản địa sắp xếp trước nơi ăn, chốn nghỉ, phương tiện đi lại... cho chuyến công tác sắp tới của bạn;
Hay bất kỳ vấn đề nào doanh nghiệp cần từ thị trường quốc tế.

Khi đăng tải thông tin trên freelancer.com cũng là một cách các doanh nghiệp có thể sử dụng để quảng bá sản phẩm của mình đồng thời có thể lựa chọn mức giá phải chăng nhất từ 9,487,939 người thuê lao động và freelancer trên hơn 247 quốc gia, vùng miền và lãnh thổ trên thế giới cho thông tin mình đang cần. 

Công ty Freelancer sẽ sớm được giao dịch trên Thị trường Chứng Khoán Australia với mã ASX:FLN

Các bước tiến hành việc lựa chọn ứng viên freelancer cho nhu cầu thông tin của doanh nghiệp được tiến hành như sau:

http://www.freelancer.com/affiliates/tacomavn/
Nhấp chuột vào Đăng dự án. Chỉ trong vài phút, các Freelancer sẽ bắt đầu đặt giá để được làm việc. Hãy chọn Freelancer mà bạn muốn và thanh toán cho họ khi dự án được hoàn thành theo đúng yêu cầu của bạn. 

Freelancer.com là trang miễn phí đăng kí, đăng dự án, nhận đặt giá từ freelancer, nhận xét hồ sơ năng lực của freelancer và thảo luận về yêu cầu của dự án. Nếu bạn chọn trao dự án, và freelancer chấp nhận, trang web sẽ thu từ doanh nghiệp một khoản phí dự án nhỏ liên quan đến lượt đặt giá được chọn, dưới dạng là phí giới thiệu (chi tiết ở bảng bên dưới). Các doanh nghiệp chỉ phải trả một mức phí cho freelancer khi hoàn tất công việc. 

Phí tổn và mức phí được tính phụ thuộc vào loại dự án và gói thành viên
Gói thành viên

CHI PHÍ


Những dự án Cố định Giá

Dự án theo giờ
Miễn phí

3% or $3.00 USD, tùy theo mốc nào cao hơn
3%
Basic

3% or $3.00 USD, tùy theo mốc nào cao hơn
3%
Cộng

3% or $3.00 USD, tùy theo mốc nào cao hơn
3%
Standard

0%
0%
Premium

0%
0%

Đối với những dự án theo giờ, phí được tính trên mỗi thanh toán được chi trả cho freelancer.
Chi tiết xem thêm www.freelancer.com

Freelancer.com đang tỏ rõ sự quan tâm đến thị trường Việt Nam với việc đầu tư bước đầu cho giao diện tiếng Việt. Đây là một kênh xúc tiến thị trường khá mới mẻ và hiệu quả dành cho doanh nghiệp Việt khi muốn mở rộng thị trường ra nước ngoài cũng như thu thập thông tin.

Ong Bee tổng hợp

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013

Affiliate Marketing - Các khái niệm cơ bản

Hình minh hoạ

Affiliate marketing là một loại hình tiếp thị online khá mới mẻ tại Việt Nam. Trước khi bắt đầu làm quen với các công việc thuộc dạng này, chúng ta thường băn khoăn với các câu hỏi như:
 -          Advertiser là gì? Nhà quảng cáo là gì?

-          Publisher là gỉ? Nhà xuất bản là gì?

-          Affiliate marketing là gì? Tiếp thị liên kết là gì?

-          Cost-per-lead, pay per lead là gì? CPL là gì?

-          Cost-per-order, pay per order là gì? CPO là gì?

-          Cost-per-sale, pay per sale là gì? CPS là gì?

-          Cost-per-click, pay per click là gì? CPC là gì?

-          Cost-per-thousand impressions là gì? CPM là gì? vv…vv

Hôm nay, tôi xin tổng hợp lược dịch một số khái niệm về Affiliate marketing  (Tiếp thị liên kết) cùng chia sẻ.
1.       Abandonment: Sự huỷ bỏ:
Khi một người truy cập trang web lựa chọn mục hàng vào giỏ mua hàng trực tuyến mà không hoàn thành giao dịch.
2.       Account balance: Số dư tài khoản:
Thu nhập của các nhà xuất bản thông qua các chương trình quảng cáo đã thực hiện mà chưa đến kỳ hoặc chưa đủ mức thanh toán tối thiểu
3.       Action: Hành động:
Một sự kiện (bán hoặc
dẫn dắt) trên trang web của nhà quảng cáo mà do đó nhà quảng cáo trả tiền hoa hồng cho nhà xuất bản giới thiệu.
4.       Action referral period: Thời gian giới thiệu hành động:
khoảng thời gian mà một nhà quảng cáo cho phép các tập tin cookie của họ duy trì hoạt động trên máy tính của khách hàng để xác định hoa hồng cho các nhà xuất bản. Thời gian giới thiệu hành động được xác định bởi lượt nhấp chuột cuối cùng của khách hàng đó trên trang web của nhà quảng cáo và phải trong khoảng từ 1 đến 120 ngày.
5.       Active publisher: Nhà xuất bản hoạt động:
Chỉ tài khoản của một nhà xuất bản đã tạo được ấn tượng và/hoặc tạo được những kích chuột thông qua trang web của nhà xuất bản đến trang web cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong một thời gian nhất định, có thể hiểu là một nhà xuất bản tạo được lưu lượng khách tham quan website.
6.       Ad blocker: Chặn quảng cáo:                                                   
Các chương trình dựa trên phần mềm ngăn chặn quảng cáo trực tuyến không hiển thị.
7.       Ad network publisher: Nhà xuất bản mạng quảng cáo:
Là người xúc tiến các phương pháp tập trung vào hợp tác với các cơ quan của bên thứ ba và những công ty liên kết tiếp thị khác để kiếm hoa hồng.
8.       Ad display/ad delivered: Quảng cáo hiển thị:
Là khi một quảng cáo được hiển thị thành công trên màn hình máy tính của người dùng.
9.       Advanced links: Liên kết nâng cao:
liên kết tiên tiến tạo ra sự tương tác xa hơn một nhấp chuột đơn giản, cho phép các nhà quảng cáo để nắm bắt thêm thông tin về người sử dụng. Lĩnh vực tìm kiếm và các menu thả xuống là những ví dụ về sự tương tác bạn tạo ra với các liên kết cao cấp. Sử dụng liên kết tiên tiến để tạo ra các loại khác của các liên kết, bao gồm: liên kết năng động, pop-ups/pop-unders, liên kết tương thích flash.
10.   Advertiser: Nhà quảng cáo:
Là một công ty bán một sản phẩm hay dịch vụ, chấp nhận thanh toán, và đáp ứng các đơn đặt hàng trực tuyến. Các nhà quảng cáo hợp tác với các nhà xuất bản để giúp quảng bá sản phẩm và dịch vụ của họ. Các nhà xuất bản đặt quảng cáo của một nhà quảng cáo, liên kết văn bản, hoặc liên kết sản phẩm trên trang web của họ hoặc đưa vào các chiến dịch quảng cáo qua email và danh sách tìm kiếm để đổi lấy tiền hoa hồng dựa trên các hành động hoặc mua hàng của đối tượng khách hàng. Đồng nghĩa với “Merchant”
11.   Affiliate marketing: Tiếp thị liên kết:
Là bất kỳ loại chương trình chia sẻ lợi nhuận trong đó một nhà xuất bản nhận được hoa hồng từ việc tạo ra các hành động trực tuyến (như dẫn dắt hoặc bán hàng) cho một nhà quảng cáo, còn được gọi là marketing dựa trên hiệu quả, marketing đối tác, CPA, chương trình liên kết, hoặc chương trình trả tiền cho hiệu suất.
12.   Affiliate solution provider: Nhà cung cấp giải pháp liên kết:
Là một nhà cung cấp bên thứ ba cung cấp phần mềm và dịch vụ để quản lý một chương trình liên kết, bao gồm phục vụ và theo dõi quảng cáo, thanh toán và báo cáo, còn được gọi là mạng lưới tiếp thị liên kết.
13.   Archived link: Liên kết lưu trữ:
sáng tạo mà nhà quảng cáo đã loại bỏ khỏi các liên kết hoạt động của họ, có nghĩa là các nhà quảng cáo không còn muốn các nhà xuất bản của mình sử dụng liên kết này để quảng bá thương hiệu của mình.
14.   Banner: Biểu quảng cáo:
Một biểu
quảng cáo là một thể đồ họa quảng cáo có thể nhấp bấm (siêu liên kết), loại phổ biến nhất của quảng cáo web. Biểu quảng cáo là đồ họa với nhiều hình dạng và kích cỡ.
15.   Base rate: Tỷ lệ cơ sở:
Tỷ lệ hoa hồng tiêu chuẩn cho một chương trình nhất định.
16.   Behavioral targeting: Sự nhắm mục tiêu hành vi:
Một kỹ thuật được sử dụng bởi các nhà xuất bản trực tuyến các nhà quảng cáo để tăng hiệu quả của các chiến dịch của họ. Nhắm mục tiêu hành vi sử dụng thông tin thu thập được về hành vi duyệt web của một cá nhân chẳng hạn như các trang web mà họ đã truy cập hoặc tìm kiếm họ đã thực hiện để chọn quảng cáo được hiển thị đối với người đó.
Thực tiễn thấy rằng điều này giúp các nhà xuất bản và bên quảng cáo cung cấp những quảng cáo trực tuyến gần gũi, dễ tác động tới những người dùng nhất.
17.   Beta: Một phiên bản thử nghiệm của một sản phẩm hay phần mềm.
18.   Blog: Một trang mạng với các bài viết thường xuyên khuyến khích ý kiến ​​người dùng, liên kết và tương tác.
19.   Bonus: Tiền thưởng:
Tiền trả cho một nhà xuất bản trên tỷ lệ hoa hồng tiêu chuẩn/
gốc của họ. Nó có thể được kết nối với một sự khuyến khích hiệu suất hoặc tùy ý (giao dịch thủ công).
20.   Business-to-business (B2B):
Kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B)
Ám
chỉ hoạt động thương mại được thực hiện giữa các doanh nghiệp.
21.   Click-through rate (CTR): Tỷ lệ nhấp chuột vào quảng cáo
22.   Content link: Liên kết nội dung có cùng một chức năng kỹ thuật cơ bản như liên kết tiên tiến, nhưng là duy nhất trong cách trình bày nội dung cho người dùng. Các nhà quảng cáo sử dụng loại liên kết này để cung cấp cho các nhà xuất bản của họ với nội dung hấp dẫn hơn. Liên kết nội dung cũng có thể chứa các loại liên kết khác, chẳng hạn như văn bản, biểu ngữ và tương tác liên kết, hoặc thậm chí có thể là các trang web hoàn chỉnh với tính SEO cao. Hữu dụng khi các nhà quảng cáo yêu cầu các nhà xuất bản sử dụng trang đích để nâng cao lưu lượng truy cập
23.   Conversion rate (CR):
Tỷ lệ người truy cập trang của nhà xuất bản và chuyển đổi thành các hành động hoặc mua sản phẩm.



Ong Bee lược dịch từ Internet 10.2013

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

Affiliate Marketing



Napoleon Hill đã viết, chúng ta những người đang trong cuộc chạy đua làm giàu phải biết rằng thế giới đầy biến đổi mà chúng ta đang sống cần có những ý tưởng mới, những phương thức làm việc mới, những phương thức tiếp thị mới....

Với hệ thống Internet phát triển như vũ bão như ngày nay, các cách thức tiến hành kinh doanh quả là như vậy. 

Trước đây, khi bạn đam mê kinh doanh nhưng trong tay không có đồng vốn nào cả, việc khởi đầu của bạn sẽ rất khó khăn. Ngoại trừ bạn thực sự xuất sắc với những ý tưởng táo bạo và mới mẻ. Hoặc bạn phải chấp nhận việc vác hồ sơ từ công ty này sang công ty khác, vượt qua hàng loạt các chỉ tiêu tuyển dụng khắt khe về hình thức, trình độ, năng lực.... để xin vào vị trí Nhân viên kinh doanh. 

Nhưng hiện nay, với các công cụ marketing hiện đại, mọi việc đã thay đổi. Một trong những thay đổi là sự ra đời một loạt công cụ marketing online và tiếp thị liên kết (Affiliate Marketing) là một trong số đó.
Tiếp thị liên kết (Affiliate Marketing) nôm na là bất kỳ loại chương trình chia sẻ lợi nhuận trong đó một nhà xuất bản (chủ website, blog) nhận được hoa hồng từ việc tạo ra các hành động trực tuyến (như dẫn dắt hành động hoặc bán hàng) cho một công ty (hay nhà quảng cáo), còn được gọi là marketing dựa trên hiệu quả, marketing đối tác, trả tiền cho hành động (CPA), chương trình liên kết, hoặc chương trình trả tiền cho hiệu suất.

Tiếp thị liên kết là một những trụ cột quan trọng của marketing trực tuyến, giúp tìm kiếm những nguồn khách hàng mới. Trong tiếp thị liên kết, các nhà xuất bản (cộng tác viên phân phối sản phẩm) từ kinh nghiệm cá nhân và những khuyến nghị đưa ra trên website cũng tương tự những quảng cáo trên truyền hình hay hình thức truyền miệng trong marketing truyền thống. Từ “Affiliate” theo từ điển có nghĩa là “Đại lý”, tức là bạn giới thiệu, bán hàng giùm người khác và được hưởng hoa hồng trên lợi nhuận kiếm được. Trong hoạt động kinh doanh ngoại tuyến, các nhà sách, đại lý vé máy bay, siêu thị… hoạt động cũng dựa trên hình thức này cũng dưới những tên gọi nhà phân phối, đại lý. 

Như vậy, nếu bạn lựa chọn tham gia các chương trình tiếp thị liên kết online này, bạn có thể thoả mãn được đam mê kinh doanh. Bạn có thể khắc phục những nhược điểm của bản thân mà kinh doanh truyền thống thường đòi hỏi như: hình thức, kỹ năng nói chuyện trực diện, yêu cầu đi lại, bia rượu tiếp khách... mà vẫn có thể tiến hành công việc mình yêu thích. Ngoài ra, bạn có thể tự do lựa chọn những thương hiệu uy tín, những công ty chuyên nghiệp để tiếp thị, đồng thời tự tìm phân khúc sản phẩm và thị trường phù hợp với bản thân. 

Nếu bạn thành thạo ngoại ngữ và có website, blog bằng tiếng Anh với lượng truy cập hàng ngày tương đối, bạn có thể tham gia:
Nếu bạn có site tiếng Việt, bạn có thể tham gia:

Bạn cần những gì để bắt đầu kiếm tiền với Affiliate?
  • Kiến thức,kỹ năng marketing online (Quảng bá promotion, SEO,…)
  • Chọn đối tác uy tín
  • Mời theo dõi các bài tiếp theo....

Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin

Nếu hiểu được mức độ và tính chất bất đối xứng thông tin, ta sẽ tìm ra được những cách thức truyền thông tiếp thị phù hợp...

Thương hiệu và lý thuyết bất đối xứng thông tin

Minh họa: Khều.

Hoạt động mua bán mặc nhiên là một giao dịch bất đối xứng thông tin. Tuy nhiên, mức độ bất đối xứng thông tin sẽ phụ thuộc vào từng loại hàng hóa cụ thể.

Nếu hiểu được mức độ và tính chất bất đối xứng thông tin, ta sẽ tìm ra được những cách thức truyền thông tiếp thị phù hợp.

Bất đối xứng thông tin

Bất đối xứng thông tin là một khái niệm trong chuyên ngành kinh tế học thông tin mô tả tình huống trong đó những người tham gia tương tác trên thị trường nắm được những thông tin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một tài sản hay dịch vụ đang được giao dịch (trao đổi) trên thị trường đó.

Trong trường hợp giao dịch diễn ra giữa người mua và người bán thì việc bất đối xứng thông tin là khi người bán biết rõ về sản phẩm hay dịch vụ mình bán, trong khi người mua lại không có hoặc có rất ít thông tin. Thông tin bất đối xứng sẽ dẫn đến nhiều hậu quả như lừa đảo, không đánh giá hết mức độ rủi ro trong giao dịch, giao dịch không thể diễn ra, thị trường không phát triển...

Vấn đề bất đối xứng thông tin bắt đầu được đề cập trong một bài báo kinh điển xuất bản vào năm 1970 của nhà kinh tế học người Mỹ George Akerlof: “The Market of Lemons: Quality Uncertainty and the Market Mechanism”.

Trong bài báo này, George Akerlof đã áp dụng thị trường xe hơi cũ tại Mỹ để minh họa cho vấn đề bất đối xứng thông tin khi mà người bán xe biết rất rõ hiện trạng của chiếc xe mình muốn bán còn người mua thì không.

Đặt giả thiết là hai bên không thể trao đổi thông tin với nhau. Ban đầu người bán sẽ ra giá 8.000 Đô la Mỹ cho một chiếc xe cũ. Nhưng vì người mua không biết giá trị thật của nó là bao nhiêu nên chỉ chấp nhận với mức giá trung bình là 4.000 Đô la Mỹ.

Với mức giá đó, tất cả những ai bán xe biết rằng giá trị của chiếc xe mình cao hơn 4.000 Đô la Mỹ sẽ rút ra khỏi thị trường, thị trường xe chỉ còn những xe có giá dưới 4.000 Đô la Mỹ.

Đến lúc này, do thiếu thông tin, người mua lại chỉ ước đoán giá trị thật của chiếc xe này phải dưới 4.000 Đô la Mỹ, họ sẽ trả giá 2.000 Đô la Mỹ. Và từ đó, những người bán xe biết rõ xe mình có giá trị cao hơn 2.000 Đô la Mỹ rẽ rút lui.

Cứ như thế, thị trường sẽ còn lại những chiếc xe rất xấu và tệ hại nhất mà theo tiếng lóng của người Mỹ là những quả chanh. Như vậy, khi thông tin bất đối xứng, giao dịch sẽ không diễn ra. Để giải quyết bài toán thú vị này, đã có hai lời giải được đưa ra:

Năm 1973, Michael Spence, nguyên Hiệu trưởng Trường Kinh doanh Stanford, đã viết bài báo “Job-Market Signaling” để nói về việc đánh giá thông tin các ứng viên thông qua bằng cấp của họ trong tuyển dụng.

Hiểu đơn giản, khi mà người tuyển dụng không thể biết chính xác năng lực của người ứng tuyển thì bằng cấp đại học là một thông tin cần thiết. Từ đó, “Signaling” là một thuật ngữ dùng để mô tả việc bên bán thể hiện những thông tin có ý nghĩa của mình cho những bên mua nhằm làm giảm đi quá trình bất đối xứng thông tin.

Nếu “Signaling” là bên bán đưa ra tín hiệu thông tin thì ngược lại, thuật ngữ “Screening” đề cập đến việc bên mua tìm hiểu thông tin thông qua một nguồn thông tin độc lập khác. Thuật ngữ này được nhà kinh tế học lừng danh từng giữ chức Phó chủ tịch Ngân hàng Thế giới Joseph Stiglitz phát triển.

Lấy ví dụ khi ngân hàng cho bạn vay tiền. Để có thể hiểu hơn về khả năng trả nợ của bạn, họ sẽ tiến hành thu thập thông tin về bạn như là tình trạng tài chính, trình độ, công việc, lý do vay tiền... để quyết định mức độ cho vay. Đây là phương pháp thường được dùng cho những trường hợp có mức độ rủi ro cao như bảo hiểm, tài chính...

Akerlof, Spence và Stiglitz sau đó đã đoạt giải Nobel Kinh tế vào năm 2001 về những nghiên cứu lý thuyết bất đối xứng thông tin. Cho đến nay, lý thuyết này được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như bảo hiểm, tài chính, quản lý công... Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét việc dùng lý thuyết này để giải thích các vấn đề về xây dựng thương hiệu.

Truyền thông tiếp thị từ góc nhìn thông tin

Hoạt động mua bán mặc nhiên đã là một giao dịch bất đối xứng thông tin. Tuy nhiên, mức độ bất đối xứng thông tin sẽ phụ thuộc vào từng hàng hóa cụ thể. Và cách thức mà người bán (công ty) và người mua (khách hàng) giải quyết vấn đề này cũng hoàn toàn khác nhau.

Nếu hiểu được mức độ và tính chất bất đối xứng thông tin, ta sẽ tìm ra được những cách thức truyền thông tiếp thị phù hợp. Xin lấy ví dụ về ba loại sản phẩm có mức độ bất đối xứng thông tin khác nhau là quần áo, máy chụp hình kỹ thuật số và dầu gội đầu.

Quần áo được xem là sản phẩm có mức độ bất đối xứng thông tin thấp. Người mua hoàn toàn có thể xem xét về chất lượng, kiểu dáng trước khi ra quyết định mua. Ở mức độ bất đối xứng cao hơn, người mua tuy có thể không đánh giá được độ bền hay chất lượng ảnh thật sự của máy chụp ảnh kỹ thuật số theo thời gian, bù lại họ có thể đánh giá thông tin thông qua việc dùng thử, tìm hiểu tính năng và các công nghệ của máy.

Cuối cùng, dầu gội được xem là hàng hóa có mức độ bất đối xứng thông tin cao nhất vì người mua hầu như không biết nhiều về thành phần và chất lượng của nó, ngay cả khi họ đã dùng thử trong thời gian dài. Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng: sản phẩm càng có mức độ bất đối xứng thông tin cao thì người mua càng phụ thuộc nhiều vào thương hiệu và có xu hướng tiêu dùng lặp lại.

Thông tin về chất lượng, kiểu dáng của quần áo dễ dàng có được, vì vậy việc xây dựng thương hiệu thông qua hai yếu tố này hầu như rất khó khăn. Và do đó, việc xây dựng thương hiệu của những mặt hàng này không nên chú trọng vào việc cung cấp thông tin mà phải tập trung vào những cảm xúc và trải nghiệm tiêu dùng (công dụng đầu tiên của thương hiệu đối với người tiêu dùng).

Mua sản phẩm công nghệ như máy chụp hình kỹ thuật số thường có tính rủi ro cao. Do đó, người tiêu dùng không chỉ nhận thông tin từ nhà sản xuất mà còn chủ động tìm hiểu thông tin (Screening). Và như vậy, chiến lược truyền thông tiếp thị của mặt hàng này là vừa phát thông tin thông qua quảng cáo, đồng thời tích cực cung cấp và tạo dựng thông tin có lợi cho bên thứ ba.

Ngày nay, với sự lớn mạnh của Internet, việc trao đổi và tiếp cận các nguồn thông tin đã trở nên dễ dàng hơn, từ đó giúp việc mua những mặt hàng công nghệ trở nên hiệu quả hơn nhưng cũng đặt ra cho nhà quản lý tiếp thị những thách thức to lớn trong việc truyền tải và tạo dựng thông tin có lợi.

Với dầu gội hay những sản phẩm tiêu dùng nhanh khác, thông tin có được là rất khó, phương pháp Signaling được ứng dụng nhiều hơn. Vì vậy mà mức độ phụ thuộc vào quảng cáo ở ngành hàng này là rất lớn. Do khả năng có được thông tin về chất lượng của những mặt hàng này là thấp nên thông tin được phát đi sẽ tập trung nhiều vào tính năng và chất lượng của sản phẩm.

Dần dần, khi thông tin được phát đi liên tục, người tiêu dùng sẽ chấp nhận thương hiệu và có khuynh hướng tiêu dùng lặp lại nhằm giảm thiểu thời gian tìm hiểu thông tin, đánh giá và lựa chọn.

Thay cho lời kết, xin trích lời tác giả Charles Wheenlan trong cuốn sách Đô la hay lá nho: “Xây dựng thương hiệu thường bị coi là công cụ trục lợi của những tập đoàn đa quốc gia thuyết phục chúng ta trả những khoản tiền cực cao cho những thứ chúng ta không cần đến. Kinh tế học nhìn vấn đề này theo một hướng khác: xây dựng thương hiệu tạo dựng niềm tin, một yếu tố cần thiết cho hoạt động của một nền kinh tế phức tạp”.

Hồ Công Hoài Phương (TBKTSG)

Source: Vneconomy